Bệnh bạc tóc sớm

Chứng bạc tóc sớm không gây ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe nhưng lại ảnh hưởng đến thẩm mỹ. Vậy, đâu là nguyên nhân và cần làm gì khi bị chứng bạc tóc sớm?




Nếu có hiện tượng tóc bạc trước tuổi 45 thì bị coi là hiện tượng tóc bạc sớm. Tóc bạc đôi khi kèm theo các hiện tượng khác như khô tóc, rụng tóc… Bạc tóc sớm không được coi là một bệnh lý mà chỉ làm ảnh hưởng thẩm mỹ, làm bạn mất tự tin khi giao tiếp, nhất là phụ nữ.

Màu đen của tóc là biểu hiện của sức khỏe tốt, tinh thần thoải mái, nội tiết cân bằng, cơ thể được cung cấp đầy đủ các yếu tố vi lượng như đồng, kẽm… Tuy nhiên đại đa số có nhiều người sức khoẻ tốt, đang độ tuổi thanh xuân mà mái đầu đã điểm hoa râm (xuất hiện nhiều tóc bạc) y học gọi là chứng tóc bạc sớm.

Hiện nay chưa rõ nguyên nhân gây tóc bạc sớm nhưng có nhiều tác giả đề cập đến các yếu tố liên quan như di truyền (ở những gia đình có truyền thống tóc bạc từ rất sớm) hay rối loạn nội tiết (tuyến sinh dục, giáp trạng…), đồng thời cũng hay gặp những đối tượng có typ thần kinh hay xúc động, làm việc căng thẳng, hay bị stress.

Nhưng cho dù nguyên nhân gì thì chứng bạc tóc sớm cũng là một bệnh rất lành tính, không gây rối loạn cảm giác, không đau đớn, không gây biến chứng, chỉ đơn thuần ảnh hưởng đến thẩm mỹ nhất là đối với chị em phụ nữ tuổi còn trẻ nhiều khi mặc cảm tự ti sinh ra bi quan lo lắng có hại cho tâm thần kinh và sức khỏe.

Hiện chưa có thuốc và phương pháp điều trị hữu hiệu, chủ yếu vẫn dùng các loại vitamin nhóm B (vitamin B5), vitamin E và uống Hà thủ ô thành từng đợt lâu dài, có thể mang lại kết quả ở một số trường hợp bệnh. Nếu bạc tóc khu trú do bạch biến ở đầu thì điều trị bạch biến khỏi sẽ trả lại màu đen cho tóc.

Nếu vì lý do thẩm mỹ có thể nhuộm tóc, tuy nhiên cần thận trọng vì phần lớn thuốc nhuộm tóc có gốc hóa học, có khả năng gây viêm da dị ứng nên phải chọn thuốc nhuộm bảo đảm và thử test trước khi nhuộm.

Điều đáng lưu tâm là càng bi quan lo lắng, mất ngủ kéo dài càng làm cho quá trình bạc tóc nhanh chóng. Ngược lại biết sinh hoạt điều độ, lối sống lành mạnh, tư tưởng thoải mái sẽ tạo điều kiện cho mái tóc xanh lâu.

Nguyên nhân tóc bạc sớm



Chào Botania! Em năm nay 27 tuổi trên đầu đã xuất hiện những sợi tóc bạc. Hiện tượng bạc tóc này mới chỉ xảy ra với em vài tháng trở lại đây. Em xin hỏi trường hợp của em của phải là hiện tượng tóc bạc sớm? hay em đang bị bệnh gì?

Bạc tóc có nhiều nguyên nhân. Nếu vì yếu tố di truyền thì chỉ có cách là nhuộm tóc. Còn nguyên nhân bệnh tật thì rất có thể xảy ra như trong trường hợp sử dụng thuốc kháng sinh, thuốc có chất sắt trong thời gian dài.

Nhiều trường hợp bạc tóc ở người còn trẻ là do thiếu kẽm (Zn). Khoáng tố vi lượng này hao hụt rất nhanh do stress, thức khuya, chế độ dinh dưỡng đơn điệu với thực phẩm công nghệ, hoặc lạm dụng thuốc có chất sắt. Tóc bạc cũng có thể xảy ra ở sản phụ sau khi sinh nở vì rối loạn nội tiết tố.

Hiện tượng tóc bạc sớm cần tìm ra nguyên nhân và điều trị tận gốc bệnh, thay vì chỉ theo lời quảng cáo đường mật của thuốc "gia truyền” trị tóc bạc.

Cai nghiện thuốc lá với BoniSmok

Cai nghiện thuốc lá trong 5 ngày. Điều tưởng chừng như không thể nhưng hoàn toàn có thể làm được với sản phẩm của Botania đó là là tpcn BoniSmok.


Bỏ thuốc lá với những người đã nghiện thuốc lá thì điều đầu tiên bạn cần làm trước khi cai thuốc lá là gì?
Chọn ngày bỏ thuốc là khởi điểm cho quá trình cai nghiện thuốc lá. Vì vậy, nên chọn ngày không có quá nhiều vấn đề phức tạp phải giải quyết để có thể chỉ tập trung vào việc bo thuoc la.
Chẳng hạn, chọn ngày có nhiều việc bận rộn nhưng chỉ là những việc thông thường, không gây căng thẳng, mệt mỏi. Tốt nhất là chọn ngày thứ 7, có thể ngủ dậy muộn một chút; chủ động sắp xếp công việc và nghỉ ngơi theo ý của mình.

Ngày thứ nhất trước khi cai thuốc lá: Khi đã chọn được “ngày lành tháng tốt” để từ bỏ thuốc lá, bạn nên liệt kê các lý do đi đến quyết định bỏ thuốc lá. Nghĩ trong đầu hoặc viết ra giấy, tuyên bố với bạn bè, gia đình và đồng nghiệp rằng bạn đang tiến hành bỏ thuốc.
Luôn nghĩ và liệt kê các lý do bỏ thuốc như: Thuốc lá có hại cho sức khỏe và tồn tiền. Hút thuốc bất tiện, ảnh hưởng đến người khác…. Và, dừng ngay việc mua thuốc lá.

Ngày thứ hai trước khi cai thuốc lá: Để ý một cách nghiêm túc khi nào và tại sao bạn lại hút thuốc: Buồn, căng thẳng, thèm thuốc, không có việc gì làm, bị bạn bè rủ rê… Hãy nghĩ đến những thói quen sinh hoạt và làm việc thường ngày khác thay thế cho hút thuốc lá.
Hãy suy nghĩ xem có cái gì khác thay thế điếu thuốc trong tay bạn.
Ví dụ: Tăm xỉa răng sau bữa ăn, hạt dưa, hạt bí, kẹo cao su, hai quả cầu lăn trên tay, bút chì… Có những thứ này bạn sẽ quên đi hành động quen thuộc “làm một điếu sau khi ăn”.

Ngày thứ ba trước khi cai thuốc lá: Quyết định cai thuoc la là điều khá khó khăn với người đã từng nghiện, và vì vậy sự hỗ trợ từ phía mọi người xung quanh là rất cần thiết. Bạn nên tìm ai đó để có thể hỏi và chia sẻ khi bạn cần sự giúp đỡ (chẳng hạn: bác sĩ, đồng nghiệp - nếu là người đã từng bỏ thuốc là tốt nhất …)
Luôn “mường tượng”: Bạn sẽ có một số tiền tiết kiệm để mua những thứ mình cần khi không phải mua thuốc lá. Đây là một liệu pháp tâm lý có tác dụng khuyến khích người nghiện bỏ thuốc rất tốt.

Ngày thứ tư trước khi cai thuốc lá: Ngồi ngẫm lại khi nào và tại sao bạn hút thuốc và tìm cách khắc phục vượt qua những thử thách đó: Sự lôi kéo của các bạn nghiện rủ rê; Sức ép của công việc (Stress)…
Các triệu chứng của “đói” thuốc sẽ thường xảy ra trong vòng 1-3 tuần đầu với biểu hiện chóng mặt, nhức đầu, tâm trạng ức chế, dễ nổi cáu, tức giận, bồn chồn,  khó tập trung tư tưởng….
Bạn nên bắt đầu đi mua sẵn một số thứ thay thế cho thuốc lá như: Hạt dưa, tăm, kẹo cao su, hai quả cầu nhỏ, bút chì... để chuẩn bị “vào cuộc”.

Ngày thứ năm trước khi cai thuốc lá: Bỏ hết diêm, bật lửa, gạt tàn ở nhà và nơi làm việc. Đồng thời, giặt toàn bộ quần áo để không còn mùi thuốc lá. Vào buổi tối 1 ngày trước ngày cai thuốc, bạn hãy hút điếu thuốc cuối cùng để chia tay với kẻ thù của mình! Lên “dây cót” tinh thần một lần nữa: “Cai thuốc là chiến lược đúng, mình có thể làm được”

Ngày cai thuốc lá:
Nhắc lại với gia đình, bạn bè và đồng nghiệp rằng hôm nay là ngày quan trọng của bạn – ngày bạn cai thuốc lá. Chắc chắn bạn sẽ được cả gia đình nhiệt tình ủng hộ.
Hãy tạo cho mình những công việc bận rộn nhưng không căng thẳng. Không uống rượu, cà phê hay những thứ bạn hay dùng với thuốc lá. Một chế độ ăn đúng và tập luyện để tránh tăng cân quá mức là điều cần thiết vì khi bạn bỏ thuốc sẽ dễ tăng cân. Duy trì cuộc sống thoải mái không lệ thuộc vào thuốc lá.
Thời gian đầu có thể bạn sẽ thèm hút thuốc kinh khủng và phải đấu tranh tư tưởng kịch liệt. Tuy nhiên, điều cấm kỵ là suy nghĩ: Hút một điếu sẽ chẳng sao! Vì nếu làm vậy bạn sẽ hoàn toàn thất bại. Hạn chế các buổi tiệc tùng có bia rượu, thuốc lá.

Mẹo vượt qua cơn thèm thuốc: 
Cảm giác cực kỳ thèm thuốc thường chỉ kéo dài 1 - 5 phút. Hãy súc miệng bằng BoniSmok ngay trước khi bạn muốn hút thuốc 2 phút. BoniSmok được điều chế từ các loại thảo dược, đã được cấp giấy phép của bộ y tế, hoàn toàn không có tác dụng phụ sẽ phản ứng với nicotine trong khói thuốc, làm mất vị ngon của thuốc laskhi hút, làm bạn chán khói thuốc, giúp bạn chống lại cơn thèm.
So với các liệu pháp cai thuốc lá bằng cách dán hay uống nicotine, biện pháp cai nghien thuoc la bằng BoniSmok có tỉ lệ thành công cao hơn, an toàn cho người sử dụng, chi phí bằng 1/20 sẽ giúp bạn cai thuốc lá một cách triệt để trong vòng 3 - 7 ngày.

Cách dùng: Ngày súc miệng 2-3 lần, mỗi lần 20-30 ml trước khi hút thuốc. Súc miệng trong khoảng 30 giây. Không được uống.

Thành phần:
- Tinh chất kim ngân hoa: 5g
- Tinh chất bồ công anh:  5
- Tinh chất cúc hoa: 5g
- Tinh dầu quế: 0.5g
- Acid citric: 1g
- Natri sunfat: 0,15g
- Nước cất vừa đủ: 250ml








Chuẩn đoán bệnh tai biến mạch máu não

Có yếu tố nguy cơ gây ra bệnh tai biến mạch máu não: Tăng huyết áp, đái tháo đường, nghiện thuốc lá… Các biểu hiện lâm sàng:


1, Khởi phát: 
Có thể giống cơn tai biến mạch máu não thoáng qua. Nếu xuất hiện vào ban ngày bệnh nhân có thể ngã, liệt nhẹ hoặc nặng, đôi khi mất ý thức hoặc hôn mê. Nếu xuất hiện vào ban đêm, bệnh nhân có thể chuyển từ ngủ gà sang hôn mê hoặc không thể dậy ra khỏi giường được.
Hôn mê: Đánh giá theo thang điểm Glasgow:
- Mắt: 4 điểm.
- Lời nói: 5 điểm.
- Vận động 6 điểm.
- Điểm Glasgow càng thấp mức độ hôn mê càng nặng.

Dấu hiệu thần kinh:
- Rối loạn tiếng nói: do vùng Broca bị tổn thương, liệt lưỡi, liệt màn hầu.
- Liệt nửa người. Đánh giá mức độ liệt:
+ Độ 1: nhẹ, rất khó phát hiện, phải khám Bare chi trên, nghiệm pháp gọng kìm, Bare chi dưới, Mangazini chi dưới.
+ Độ 2: Bệnh nhân đi lại khó khăn, nhìn khám dễ dàng.
+ Độ 3: Bệnh nhân đi lại được nhưng phải có người giúp.
+ Độ 4: Bệnh nhân không đi lại được mặc dù có người trợ giúp.
+ Độ 5: liệt hoàn toàn, mất hẳn khả năng vận động.
-  Liệt nửa mặt phải hoặc trái, trung ương hay ngoại biên (Charler Bell dương tính, liệt hoàn toàn nửa mặt).

2. Rối loạn thần kinh thực vật: sốt, bí đái, nhịp tim nhanh.

- Tùy trường hợp cụ thể, một số yếu tố có thể hướng tới chẩn đoán:

a. Hội chứng chảy máu não:
- Thường bệnh nhân có tăng huyết áp. Rối loạn ý thức, đau đầu, nôn, có thể có gáy cứng
- Bệnh cảnh tai biến mạch máu não: xuất hiện đột ngột, các triệu chứng thần kinh khu trú xuất hiện khá nhanh, liệt nửa người, liệt mặt cùng bên…
- Cơn động kinh cục bộ hoặc toàn thể xuất hiện trong 10-20% các trường hợp.
- Vị trí thường gặp: nhân bèo, bao trong, đồi thị, thùy não…
- Lụt máu não thất: rất nặng, tiến triển nhanh, sốt > 40o, co giật, dấu hiệu màng não dương tính. Hội chứng tăng áp lực nội sọ, biểu hiện lâm sàng có thể cả hai bên.

b. Hội chứng chảy máu dưới nhện:
- Điển hình:
+ Nhức đầu dữ dội, lan tỏa hay khu trú ở một bên hoặc ở phía sau kèm cứng cột sống.
+ Hay lợm giọng, nôn xảy ra ngay hoặc sau vài giờ.
+ Nhức đầu ngày càng tăng.
+ Trong thể thuần túy xuất huyết dưới nhện không có triệu chứng tổn thương não, màng não mà liệt vận nhãn.
+ Thể nặng có trạng thái sững sờ hoặc hôn mê, cứng gáy và tổn thương lan tỏa thần kinh trung ương.

c. Khối máu tụ trong não:
- Còn gọi là máu tụ tự phát trong não. Là thể đặc biệt của xuất huyết não, máu không thấm vào nhu mô não mà đọng lại tại chỗ.
- Tiến triển nhanh với các triệu chứng giả tạo khối u
- Nguyên nhân: tăng huyết áp (chảy máu thùy), chấn thương, dị dạng mạch và tụ máu tự phát.
- Lâm sàng:
+ Liệt nửa người.
+ Có thể hôn mê ngắt quãng.
+ Hội chứng tăng áp lực nội sọ.
+ Hội chứng của thùy: thường gặp ở thùy đỉnh, thái dương, chẩm.

d. Nhồi máu não:
- Khởi đầu từ từ.
- Liệt nửa người.
- Hôn mê vừa hoặc nhẹ.
- Có thể có động kinh.
- Tắc mạch: khởi đầu từ từ, tăng dần, huyết áp thường không cao, tiên lượng tốt.
- Huyết khối: đột ngột, có thể có cơn động kinh, ở người có viêm nội tâm mạc, rung nhĩ hoặc nhồi máu cơ tim.
- Tùy theo vị trí tổn thương mà biểu hiện.
- Khu vực mạch cảnh:
+ Hội chứng động mạch não giữa nông: liệt nhẹ vận động và cảm giác tay mặt, thất ngôn, rối loạn thị giác, quay mắt, quay đầu về phía bên tổn thương. Nếu tổn thương bán cầu não phải dẫn tới mất nhận biết nửa thân trái.
+ Hội chứng động mạch não giữa sâu: liệt vận động thuần túy nửa người, liệt mặt trung ương cùng bên, có thể kèm nói khó.
+ Hội chứng toàn bộ động mạch não giữa: liệt nửa người, liệt mặt trung ương, rối loạn thị giác, cảm giác, ngôn ngữ.
+ Hội chứng động mạch não trước: liệt nhẹ cảm giác, vận động chi dưới hoặc kèm một phần gốc chi trên (vai). Có thể kèm rối loạn tiểu tiện, phản xạ nắm.
- Khu vực động mạch sống nền:
+ Đặc trưng: tổn thương tiểu não, thân não.
+ Dấu hiệu tiểu não hoặc tổn thương dây thần kinh sọ não 1 bên (bên tổn thương)
+ Dấu hiệu vận động, cảm giác bên kia -> gợi ý tổn thương thuộc hệ sống nền.
+ Tiên lượng nặng, có chỉ định phẫu thuật.
- Các hội chứng ổ khuyết:
+ Hốc não (ổ khuyết của mô não) xảy ra sau một ổ nhồi máu nhỏ. Xảy ra khi các mạch xuyên có đường kính < 0.2 mm bị tắc. Đường kính hốc não < 1.5-2 cm.
+ Lâm sàng: biểu hiện bằng một trong 5 hội chứng cổ điển:
Liệt nửa người vận động đơn thuần.
Liệt nửa người vận động và cảm giác phối hợp.
Tai biến về cảm giác đơn thuần.
Liệt nhẹ nửa người thất điều.
Hội chứng loạn vận ngôn - bàn tay vụng về.
Cận lâm sàng:
- Xét nghiệm máu: bạch cầu tăng, đường tăng, ure tăng, nước tiểu có thể có đường, protein.
- Soi đáy mắt: động mạch võng mạc thường tổn thương song song với động mạch não. HA động mạch trung tâm võng mạc hạ được coi là chỉ điểm của tắc động mạch cảnh trong. Có thể phát hiện bằng siêu âm.
- Xét nghiệm dịch não tủy (cần cân nhắc): dịch não tủy đỏ (phân biệt nhồi máu não và xuất huyết não - màng não, dịch não tủy đỏ sau chuyển sang vàng, protein có thể tăng).
- Siêu âm Doppler các động mạch cổ: giúp tìm mảng xơ vữa động mạch.
- Chụp cắt lớp sọ não, MRI: chẩn đoán chính xác vị trí, thể bệnh
- Chụp động mạch não: chỉ tiến hành khi có chỉ định của bác sỹ chuyên khoa nhằm điều trị can thiệp: ngoại khoa, nút mạch.

Lời khuyên cho người đái tháo đường

Một số lời khuyên của bác sĩ dành cho người bệnh đái tháo đường

Ngay từ lúc được chẩn đoán bệnh đái tháo đường, người bệnh cần phải biết tự chăm sóc và theo dõi bệnh hằng ngày bằng những cách sau:



- Tuân thủ chế độ ăn hợp lý

- Luyện tập thể dục hằng ngày, chọn loại hình an toàn và hiệu quả nhất. Đi bộ khoảng 30 phút mỗi ngày có vẻ phù hợp với đa số bệnh nhân đái tháo đường.

- Duy trì cân nặng hợp lý

- Dùng thuốc điều trị đái tháo đường (uống, tiêm) đúng cách, đúng theo hướng dẫn của thầy thuốc

- Tự theo dõi đường huyết, huyết áp

- Kiểm tra, chăm sóc bàn chân hàng ngày

- Chải răng và nướu (lợi) hằng ngày

- Ngưng hút thuốc lá

- Khám mắt và xét nghiệm định kỳ…

Khi thực hiện những biện pháp này sẽ giúp người bệnh kiểm soát tốt được đường huyết của mình và phát hiện sớm các biến chứng, giúp kéo dài và gia tăng chất lượng cuộc sống cho người bệnh.

Bệnh Đái tháo đường ngày càng gia tăng và có nhiều biến chứng gây tàn phế cho người bệnh, điều trị lại tốn kém nhất là khi đã có biến chứng. Do vậy, việc phòng ngừa biến chứng là rất quan trọng vì cơ thể người bệnh không thể trở về tình trạng bình thường như trước kia khi đã xuất hiện biến chứng. Người bệnh hãy cùng với thầy thuốc và gia đình cố gắng giải quyết thách thức hiện nay của bệnh đái tháo đường: đó là làm thế nào để giữ đường huyết của mình ở mức gần bình thường vì việc kiểm soát tốt đường huyết, đưa đường huyết ra ngoài vùng nguy hiểm sẽ giúp người bệnh sống khoẻ mạnh và giảm biến chứng của bệnh đái tháo đường.

Vùng đường huyết đái tháo đường những điều cần biết?

Nhiều nghiên cứu khoa học đã chứng minh bệnh đái tháo đường hay còn gọi là bệnh tiểu đường có những vùng đường huyết nguy hiểm, đó là khi đường huyết quá thấp hay quá cao.




Đường huyết xuống thấp dưới 60mg/dL dễ đưa người bệnh đến hôn mê hoặc thậm chí tử vong nếu không được điều trị kịp thời, còn khi đường huyết thường xuyên tăng cao trên 180mg/dL thì dễ gây ra các biến chứng ở mắt, thận, thần kinh, mạch máu, tim, não… Chính vì vậy người bệnh phải được điều trị sao cho đạt được đường huyết nằm trong vùng an toàn.

- Đường huyết ổn định, nằm ngoài vùng nguy hiểm, gần mức bình thường sẽ giúp bệnh nhân sống khỏe mạnh và ngăn ngừa biến chứng
- Đường huyết hạ quá mức đưa người bệnh đến hôn mê do hạ đường huyết
- Đường huyết cao đưa người bệnh đến các biến chứng mạn như mù, đột quỵ, bệnh tim mạch, đoạn chi…
- Đường huyết quá cao gây ra các biến chứng cấp như hôn mê nhiễm toan ceton, hôn mê tăng áp lực thẩm thấu…
- Đường huyết dao động nhiều – lúc quá cao, lúc quá thấp-cũng đưa đến các biến chứng, chất lượng sống kém.

Vì sao người bệnh không quan tâm đến vùng đường huyết nguy hiểm?

Vùng đường huyết nguy hiểm là một khái niệm không hề mới đối với các thầy thuốc, nhưng đối với bệnh nhân đái tháo đường thì còn rất nhiều người chưa biết, hoặc chưa hiểu rõ tầm quan trọng, ý nghĩa của khái niệm này. Nguyên do là người bệnh quá chủ quan và thiếu hiểu biết về bệnh đái tháo đường. Đây chính là trở ngại lớn nhất của người thầy thuốc trong việc điều trị ổn định bệnh đái tháo đường cho người bệnh.
Một số điều chưa đúng thường gặp ở người bệnh là:
- Cho rằng bệnh mình nhẹ vì vẫn thấy khỏe, bình thường
- Không quan tâm đến đường huyết và rất ít khi làm xét nghiệm, có khi 2-3 tháng hoặc thậm chí cả năm mới thử đường huyết 1 lần.
- Không tái khám, sử dụng thuốc không đúng, hoặc sử dụng 1 toa thuốc từ năm này qua năm khác.
Nhiều người bệnh cho rằng đường huyết của mình không cao do vẫn cảm thấy khỏe hoặc thử nước tiểu không thấy có đường. Trong thực tế, chỉ khi đường huyết tăng hơn 170mg/dL thì mới xuất hiện đường trong nước tiểu và khi đường huyết tăng rất cao (thường trên 300mg/dL) thì mới có các triệu chứng như mệt mỏi, tiểu nhiều, khát nước, khô miệng… Còn khi đường huyết đã tăng cao nhưng thấp hơn con số trên (tức là từ 126mg/dL đến dưới 300mg/dL), thì vẫn chưa biểu hiện triệu chứng do vậy người bệnh thường không cảm nhận được mặc dầu bệnh đã gây biến chứng lên các cơ quan khác trong cơ thể.

Hậu quả là:
- Khoảng 50% bệnh nhân đái tháo đường típ 2 lúc mới phát hiện đã có ít nhất 1 biến chứng
- Đa số bệnh nhân đái tháo đường típ 2 sống hàng tháng, hàng năm với mức đường huyết tăng cao mà không hề biết rằng nhiều bộ phận trong cơ thể họ đang bị tổn thương dần dần cho đến khi triệu chứng xuất hiện
- Bệnh được phát hiện muộn, điều trị rất tốn kém, hiệu quả thấp. Điều trị dù tích cực cũng không thể hồi phục, khó ngăn được biến chứng tiếp diễn và để lại tàn phế.
Đó chính là lý do tại sao đái tháo đường diễn tiến âm thầm và gây ra nhiều tổn thương ở các cơ quan trọng yếu của cơ thể và cũng vì vậy bệnh đái tháo đường được gọi là “sát thủ thầm lặng”

Người bệnh làm gì để không bị rơi vào vùng đường huyết nguy hiểm?

Người bệnh cần phải tự theo dõi đường huyết và biết mức đường huyết cần đạt (vùng an toàn) cũng như biết xử trí khi đường huyết dao động nhiều, quá cao hay quá thấp.

Tự theo dõi đường huyết là gì?

Tự theo dõi đường huyết là biện pháp đo đường huyết bằng máy tại nhà, ghi lại và đánh gíá các trị số đường huyết đo được. Biết được mức đường huyết của mình sẽ giúp người bệnh đạt được mục tiêu điều trị và không bị rơi vào vùng đường huyết nguy hiểm.
Số lần cần thử đường huyết trong ngày còn tùy thuộc vào mục tiêu đường huyết cần đạt, cách thức điều trị và tình trạng bệnh nhân

Đối với đái tháo đường típ 1: nếu đường huyết dao động nhiều và đang điều chỉnh liều Insulin, nên thử 3-4 lần mỗi ngày

Đối với đái tháo đường típ 2:

- Đường huyết ổn định không cần thử thường xuyên
- Đường huyết chưa ổn định nên thử ít nhất 2 lần mỗi ngày
Giảm số lần thử lại khi đường huyết ổn định trở lại

Tăng số lần thử đường huyết trong các trường hợp:
- Trong giai đoạn căng thẳng/stress, đang có thêm bệnh khác
- Nghi ngờ hạ đường huyết
- Hoạt động thể lực nhiều
- Đường huyết đang ở giai đoạn quá cao hay quá thấp
- Thay đổi điều trị, chế độ ăn, cách thức vận động

Người bệnh cần làm gì khi có đường huyết bất thường?

Mức đường huyết được xem là bất thường khi:
- Lúc đói, đường huyết dưới 70 mg/dL (3,9mmol/L)
- Sau ăn 2 giờ, đường huyết trên 200mg/dL (11,1mmol/L)

Khi có mức đường huyết bất thường:
- Trường hợp đường huyết thấp: người bệnh nên ăn thêm bánh, kẹo, nước đường, sữa.
- Trường hợp đường huyết tăng: người bệnh nên xem lại chế độ ăn, loại thức ăn, có quên uống thuốc không…
Sau đó nên đi khám bệnh để được bác sĩ tư vấn và điều chỉnh thuốc.

Vùng đường huyết an toàn là bao nhiêu?

Theo Hiệp hội Đái tháo đường của Mỹ, mức đường huyết an toàn đối với đa số người bệnh đái tháo đường là:
- Đường huyết lúc đói: 90-130mg/dL (5,0mmol/L-7,2mmol/L)
- Đường huyết sau ăn 1-2 giờ: nhỏ hơn 180mg/dL (10mmol/L)
- Đường huyết trước khi đi ngủ: 110mg/dL-150mg/dL (6,0mmol/L-8,3mmol/L)
Lưu ý là mức đường huyết an toàn, thích hợp còn tùy thuộc vào tuổi tác, mức độ các biến chứng và các bệnh lý kèm theo. Vì vậy, Bác sĩ sẽ quyết định mức đường huyết người bệnh cần đạt là bao nhiêu.

Bệnh đái tháo đường là bệnh gì?

Bệnh Đái tháo đường hay còn gọi là bệnh tiểu đường gây ra những hậu quả nặng nề cho người bệnh khi đường huyết luôn nằm trong vùng nguy hiểm. Những tổn thương do bệnh Đái tháo đường vẫn tiếp diễn ở cơ thể bệnh nhân cho dù người bệnh cảm thấy khỏe, đến khi có triệu chứng rõ ràng thì điều trị thường là muộn.




 Bệnh đái tháo đường là gì?

Đái tháo đường là tình trạng tăng đường trong máu mạn tính, không lây nhiễm, có tính di truyền, do thiếu Insulin (tụy tạng không tiết Insulin hay Insulin hoạt động không hiệu quả). Insulin là một chất do tụy tạng tiết ra có tác dụng làm cho đường trong máu luôn ở mức ổn định. Thông thường bác sĩ chẩn đoán người bệnh bị đái tháo đường khi đường huyết lúc đói ít nhất qua 2 lần thử máu lớn hơn hay bằng 126mg/dL (7mmol/L).
Bệnh đái tháo đường có 2 dạng chính là:
- Đái tháo đường típ 1 (người bệnh không có Insulin)
- Đái tháo đường típ 2 (người bệnh có Insulin, nhưng Insulin hoạt động không hiệu quả).

Biến chứng bệnh đái tháo đường:

1. Biến chứng cấp khi đường huyết tăng quá cao:
- Hôn mê do nhiễm ceton acid.
- Hôn mê do tăng áp lực thẩm thấu.

2. Biến chứng mạch máu nhỏ:
- ở mắt, thận, thần kinh (ở mắt gây viêm võng mạc, đục thủy tinh thể, mù đột ngột; ở thận gây viêm thận, suy thận; ở thần kinh gây teo cơ, mất hoặc tăng cảm giác đau, có cảm giác như điện giật, tê tay chân, liệt các dây thần kinh sọ não gây sụp mi, lé mắt, méo miệng hoặc gây bất lực ở nam giới…)
- Biến chứng mạch máu lớn: ở tim, mạch máu ngoại biên, não (gây xơ cứng động mạch, thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim, cao huyết áp, tai biến mạch máu não dẫn đến đột quỵ…)
- Biến chứng khác: da, xương khớp, nhiễm trùng…
- Biến chứng loét, nhiễm trùng, biến dạng bàn chân của người đái tháo đường.
Những người bệnh đái tháo đường đều có thể bị các biến chứng mạn. Tỷ lệ biến chứng mạn gia tăng tùy thuộc vào tình trạng mất cân bằng đường huyết và thâm niên của bệnh.

Ai có nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường? Làm sao phát hiện bệnh đái tháo đường?


Để phát hiện sớm bệnh đái tháo đường cần xét nghiệm đường huyết định kỳ:
- Xét nghiệm đường huyết lúc đói ở tuổi từ 45 trở đi. Nếu kết quả bình thường, tốt nhất thử lại mỗi năm.
- Xét nghiệm đường huyết lúc đói ở tuổi trẻ hơn và thường xuyên hơn khi có 1 trong các yếu tố sau:
- Cha mẹ hay anh chị em ruột bị bệnh đái tháo đường
- Không vận động thể lực
- Dư cân hay béo phì
- Cao huyết áp
- Rối loạn mỡ máu
- Đã được chẩn đoán có rối loạn dung nạp đường hay rối loạn đường huyết lúc đói
- Sinh con to trên 4kg hay đã được chẩn đoán đái tháo đường trong thai kỳ
- Có bệnh tim mạch hay tai biến mạch máu não
Ngoài ra cần đến khám ở các cơ sở y tế để được xét nghiệm đường huyết khi có các triệu chứng nghi ngờ mắc bệnh đái tháo đường như: mờ mắt, sụt cân, vết thương lâu lành, đau nhức, ngứa, tiểu nhiều, khát nước, bất lực ở nam giới…

3. Những yếu tố nào ảnh hưởng đến đường huyết của người bệnh?
Đường huyết của người bệnh dao động trong ngày, có nhiều yếu tố làm cho đường huyết tăng lên hoặc giảm xuống. Đường huyết bị ảnh hưởng bởi:
- Thức ăn, kích xúc tâm lý (stress), bệnh phối hợp: làm đường huyết tăng lên
- Insulin, thuốc uống, luyện tập thể lực: giúp giảm đường huyết
Lưu ý là mỗi người bệnh đái tháo đường sẽ đáp ứng khác nhau với các yếu tố nêu trên.