Chuẩn đoán bệnh tai biến mạch máu não

Có yếu tố nguy cơ gây ra bệnh tai biến mạch máu não: Tăng huyết áp, đái tháo đường, nghiện thuốc lá… Các biểu hiện lâm sàng:


1, Khởi phát: 
Có thể giống cơn tai biến mạch máu não thoáng qua. Nếu xuất hiện vào ban ngày bệnh nhân có thể ngã, liệt nhẹ hoặc nặng, đôi khi mất ý thức hoặc hôn mê. Nếu xuất hiện vào ban đêm, bệnh nhân có thể chuyển từ ngủ gà sang hôn mê hoặc không thể dậy ra khỏi giường được.
Hôn mê: Đánh giá theo thang điểm Glasgow:
- Mắt: 4 điểm.
- Lời nói: 5 điểm.
- Vận động 6 điểm.
- Điểm Glasgow càng thấp mức độ hôn mê càng nặng.

Dấu hiệu thần kinh:
- Rối loạn tiếng nói: do vùng Broca bị tổn thương, liệt lưỡi, liệt màn hầu.
- Liệt nửa người. Đánh giá mức độ liệt:
+ Độ 1: nhẹ, rất khó phát hiện, phải khám Bare chi trên, nghiệm pháp gọng kìm, Bare chi dưới, Mangazini chi dưới.
+ Độ 2: Bệnh nhân đi lại khó khăn, nhìn khám dễ dàng.
+ Độ 3: Bệnh nhân đi lại được nhưng phải có người giúp.
+ Độ 4: Bệnh nhân không đi lại được mặc dù có người trợ giúp.
+ Độ 5: liệt hoàn toàn, mất hẳn khả năng vận động.
-  Liệt nửa mặt phải hoặc trái, trung ương hay ngoại biên (Charler Bell dương tính, liệt hoàn toàn nửa mặt).

2. Rối loạn thần kinh thực vật: sốt, bí đái, nhịp tim nhanh.

- Tùy trường hợp cụ thể, một số yếu tố có thể hướng tới chẩn đoán:

a. Hội chứng chảy máu não:
- Thường bệnh nhân có tăng huyết áp. Rối loạn ý thức, đau đầu, nôn, có thể có gáy cứng
- Bệnh cảnh tai biến mạch máu não: xuất hiện đột ngột, các triệu chứng thần kinh khu trú xuất hiện khá nhanh, liệt nửa người, liệt mặt cùng bên…
- Cơn động kinh cục bộ hoặc toàn thể xuất hiện trong 10-20% các trường hợp.
- Vị trí thường gặp: nhân bèo, bao trong, đồi thị, thùy não…
- Lụt máu não thất: rất nặng, tiến triển nhanh, sốt > 40o, co giật, dấu hiệu màng não dương tính. Hội chứng tăng áp lực nội sọ, biểu hiện lâm sàng có thể cả hai bên.

b. Hội chứng chảy máu dưới nhện:
- Điển hình:
+ Nhức đầu dữ dội, lan tỏa hay khu trú ở một bên hoặc ở phía sau kèm cứng cột sống.
+ Hay lợm giọng, nôn xảy ra ngay hoặc sau vài giờ.
+ Nhức đầu ngày càng tăng.
+ Trong thể thuần túy xuất huyết dưới nhện không có triệu chứng tổn thương não, màng não mà liệt vận nhãn.
+ Thể nặng có trạng thái sững sờ hoặc hôn mê, cứng gáy và tổn thương lan tỏa thần kinh trung ương.

c. Khối máu tụ trong não:
- Còn gọi là máu tụ tự phát trong não. Là thể đặc biệt của xuất huyết não, máu không thấm vào nhu mô não mà đọng lại tại chỗ.
- Tiến triển nhanh với các triệu chứng giả tạo khối u
- Nguyên nhân: tăng huyết áp (chảy máu thùy), chấn thương, dị dạng mạch và tụ máu tự phát.
- Lâm sàng:
+ Liệt nửa người.
+ Có thể hôn mê ngắt quãng.
+ Hội chứng tăng áp lực nội sọ.
+ Hội chứng của thùy: thường gặp ở thùy đỉnh, thái dương, chẩm.

d. Nhồi máu não:
- Khởi đầu từ từ.
- Liệt nửa người.
- Hôn mê vừa hoặc nhẹ.
- Có thể có động kinh.
- Tắc mạch: khởi đầu từ từ, tăng dần, huyết áp thường không cao, tiên lượng tốt.
- Huyết khối: đột ngột, có thể có cơn động kinh, ở người có viêm nội tâm mạc, rung nhĩ hoặc nhồi máu cơ tim.
- Tùy theo vị trí tổn thương mà biểu hiện.
- Khu vực mạch cảnh:
+ Hội chứng động mạch não giữa nông: liệt nhẹ vận động và cảm giác tay mặt, thất ngôn, rối loạn thị giác, quay mắt, quay đầu về phía bên tổn thương. Nếu tổn thương bán cầu não phải dẫn tới mất nhận biết nửa thân trái.
+ Hội chứng động mạch não giữa sâu: liệt vận động thuần túy nửa người, liệt mặt trung ương cùng bên, có thể kèm nói khó.
+ Hội chứng toàn bộ động mạch não giữa: liệt nửa người, liệt mặt trung ương, rối loạn thị giác, cảm giác, ngôn ngữ.
+ Hội chứng động mạch não trước: liệt nhẹ cảm giác, vận động chi dưới hoặc kèm một phần gốc chi trên (vai). Có thể kèm rối loạn tiểu tiện, phản xạ nắm.
- Khu vực động mạch sống nền:
+ Đặc trưng: tổn thương tiểu não, thân não.
+ Dấu hiệu tiểu não hoặc tổn thương dây thần kinh sọ não 1 bên (bên tổn thương)
+ Dấu hiệu vận động, cảm giác bên kia -> gợi ý tổn thương thuộc hệ sống nền.
+ Tiên lượng nặng, có chỉ định phẫu thuật.
- Các hội chứng ổ khuyết:
+ Hốc não (ổ khuyết của mô não) xảy ra sau một ổ nhồi máu nhỏ. Xảy ra khi các mạch xuyên có đường kính < 0.2 mm bị tắc. Đường kính hốc não < 1.5-2 cm.
+ Lâm sàng: biểu hiện bằng một trong 5 hội chứng cổ điển:
Liệt nửa người vận động đơn thuần.
Liệt nửa người vận động và cảm giác phối hợp.
Tai biến về cảm giác đơn thuần.
Liệt nhẹ nửa người thất điều.
Hội chứng loạn vận ngôn - bàn tay vụng về.
Cận lâm sàng:
- Xét nghiệm máu: bạch cầu tăng, đường tăng, ure tăng, nước tiểu có thể có đường, protein.
- Soi đáy mắt: động mạch võng mạc thường tổn thương song song với động mạch não. HA động mạch trung tâm võng mạc hạ được coi là chỉ điểm của tắc động mạch cảnh trong. Có thể phát hiện bằng siêu âm.
- Xét nghiệm dịch não tủy (cần cân nhắc): dịch não tủy đỏ (phân biệt nhồi máu não và xuất huyết não - màng não, dịch não tủy đỏ sau chuyển sang vàng, protein có thể tăng).
- Siêu âm Doppler các động mạch cổ: giúp tìm mảng xơ vữa động mạch.
- Chụp cắt lớp sọ não, MRI: chẩn đoán chính xác vị trí, thể bệnh
- Chụp động mạch não: chỉ tiến hành khi có chỉ định của bác sỹ chuyên khoa nhằm điều trị can thiệp: ngoại khoa, nút mạch.

Lời khuyên cho người đái tháo đường

Một số lời khuyên của bác sĩ dành cho người bệnh đái tháo đường

Ngay từ lúc được chẩn đoán bệnh đái tháo đường, người bệnh cần phải biết tự chăm sóc và theo dõi bệnh hằng ngày bằng những cách sau:



- Tuân thủ chế độ ăn hợp lý

- Luyện tập thể dục hằng ngày, chọn loại hình an toàn và hiệu quả nhất. Đi bộ khoảng 30 phút mỗi ngày có vẻ phù hợp với đa số bệnh nhân đái tháo đường.

- Duy trì cân nặng hợp lý

- Dùng thuốc điều trị đái tháo đường (uống, tiêm) đúng cách, đúng theo hướng dẫn của thầy thuốc

- Tự theo dõi đường huyết, huyết áp

- Kiểm tra, chăm sóc bàn chân hàng ngày

- Chải răng và nướu (lợi) hằng ngày

- Ngưng hút thuốc lá

- Khám mắt và xét nghiệm định kỳ…

Khi thực hiện những biện pháp này sẽ giúp người bệnh kiểm soát tốt được đường huyết của mình và phát hiện sớm các biến chứng, giúp kéo dài và gia tăng chất lượng cuộc sống cho người bệnh.

Bệnh Đái tháo đường ngày càng gia tăng và có nhiều biến chứng gây tàn phế cho người bệnh, điều trị lại tốn kém nhất là khi đã có biến chứng. Do vậy, việc phòng ngừa biến chứng là rất quan trọng vì cơ thể người bệnh không thể trở về tình trạng bình thường như trước kia khi đã xuất hiện biến chứng. Người bệnh hãy cùng với thầy thuốc và gia đình cố gắng giải quyết thách thức hiện nay của bệnh đái tháo đường: đó là làm thế nào để giữ đường huyết của mình ở mức gần bình thường vì việc kiểm soát tốt đường huyết, đưa đường huyết ra ngoài vùng nguy hiểm sẽ giúp người bệnh sống khoẻ mạnh và giảm biến chứng của bệnh đái tháo đường.

Vùng đường huyết đái tháo đường những điều cần biết?

Nhiều nghiên cứu khoa học đã chứng minh bệnh đái tháo đường hay còn gọi là bệnh tiểu đường có những vùng đường huyết nguy hiểm, đó là khi đường huyết quá thấp hay quá cao.




Đường huyết xuống thấp dưới 60mg/dL dễ đưa người bệnh đến hôn mê hoặc thậm chí tử vong nếu không được điều trị kịp thời, còn khi đường huyết thường xuyên tăng cao trên 180mg/dL thì dễ gây ra các biến chứng ở mắt, thận, thần kinh, mạch máu, tim, não… Chính vì vậy người bệnh phải được điều trị sao cho đạt được đường huyết nằm trong vùng an toàn.

- Đường huyết ổn định, nằm ngoài vùng nguy hiểm, gần mức bình thường sẽ giúp bệnh nhân sống khỏe mạnh và ngăn ngừa biến chứng
- Đường huyết hạ quá mức đưa người bệnh đến hôn mê do hạ đường huyết
- Đường huyết cao đưa người bệnh đến các biến chứng mạn như mù, đột quỵ, bệnh tim mạch, đoạn chi…
- Đường huyết quá cao gây ra các biến chứng cấp như hôn mê nhiễm toan ceton, hôn mê tăng áp lực thẩm thấu…
- Đường huyết dao động nhiều – lúc quá cao, lúc quá thấp-cũng đưa đến các biến chứng, chất lượng sống kém.

Vì sao người bệnh không quan tâm đến vùng đường huyết nguy hiểm?

Vùng đường huyết nguy hiểm là một khái niệm không hề mới đối với các thầy thuốc, nhưng đối với bệnh nhân đái tháo đường thì còn rất nhiều người chưa biết, hoặc chưa hiểu rõ tầm quan trọng, ý nghĩa của khái niệm này. Nguyên do là người bệnh quá chủ quan và thiếu hiểu biết về bệnh đái tháo đường. Đây chính là trở ngại lớn nhất của người thầy thuốc trong việc điều trị ổn định bệnh đái tháo đường cho người bệnh.
Một số điều chưa đúng thường gặp ở người bệnh là:
- Cho rằng bệnh mình nhẹ vì vẫn thấy khỏe, bình thường
- Không quan tâm đến đường huyết và rất ít khi làm xét nghiệm, có khi 2-3 tháng hoặc thậm chí cả năm mới thử đường huyết 1 lần.
- Không tái khám, sử dụng thuốc không đúng, hoặc sử dụng 1 toa thuốc từ năm này qua năm khác.
Nhiều người bệnh cho rằng đường huyết của mình không cao do vẫn cảm thấy khỏe hoặc thử nước tiểu không thấy có đường. Trong thực tế, chỉ khi đường huyết tăng hơn 170mg/dL thì mới xuất hiện đường trong nước tiểu và khi đường huyết tăng rất cao (thường trên 300mg/dL) thì mới có các triệu chứng như mệt mỏi, tiểu nhiều, khát nước, khô miệng… Còn khi đường huyết đã tăng cao nhưng thấp hơn con số trên (tức là từ 126mg/dL đến dưới 300mg/dL), thì vẫn chưa biểu hiện triệu chứng do vậy người bệnh thường không cảm nhận được mặc dầu bệnh đã gây biến chứng lên các cơ quan khác trong cơ thể.

Hậu quả là:
- Khoảng 50% bệnh nhân đái tháo đường típ 2 lúc mới phát hiện đã có ít nhất 1 biến chứng
- Đa số bệnh nhân đái tháo đường típ 2 sống hàng tháng, hàng năm với mức đường huyết tăng cao mà không hề biết rằng nhiều bộ phận trong cơ thể họ đang bị tổn thương dần dần cho đến khi triệu chứng xuất hiện
- Bệnh được phát hiện muộn, điều trị rất tốn kém, hiệu quả thấp. Điều trị dù tích cực cũng không thể hồi phục, khó ngăn được biến chứng tiếp diễn và để lại tàn phế.
Đó chính là lý do tại sao đái tháo đường diễn tiến âm thầm và gây ra nhiều tổn thương ở các cơ quan trọng yếu của cơ thể và cũng vì vậy bệnh đái tháo đường được gọi là “sát thủ thầm lặng”

Người bệnh làm gì để không bị rơi vào vùng đường huyết nguy hiểm?

Người bệnh cần phải tự theo dõi đường huyết và biết mức đường huyết cần đạt (vùng an toàn) cũng như biết xử trí khi đường huyết dao động nhiều, quá cao hay quá thấp.

Tự theo dõi đường huyết là gì?

Tự theo dõi đường huyết là biện pháp đo đường huyết bằng máy tại nhà, ghi lại và đánh gíá các trị số đường huyết đo được. Biết được mức đường huyết của mình sẽ giúp người bệnh đạt được mục tiêu điều trị và không bị rơi vào vùng đường huyết nguy hiểm.
Số lần cần thử đường huyết trong ngày còn tùy thuộc vào mục tiêu đường huyết cần đạt, cách thức điều trị và tình trạng bệnh nhân

Đối với đái tháo đường típ 1: nếu đường huyết dao động nhiều và đang điều chỉnh liều Insulin, nên thử 3-4 lần mỗi ngày

Đối với đái tháo đường típ 2:

- Đường huyết ổn định không cần thử thường xuyên
- Đường huyết chưa ổn định nên thử ít nhất 2 lần mỗi ngày
Giảm số lần thử lại khi đường huyết ổn định trở lại

Tăng số lần thử đường huyết trong các trường hợp:
- Trong giai đoạn căng thẳng/stress, đang có thêm bệnh khác
- Nghi ngờ hạ đường huyết
- Hoạt động thể lực nhiều
- Đường huyết đang ở giai đoạn quá cao hay quá thấp
- Thay đổi điều trị, chế độ ăn, cách thức vận động

Người bệnh cần làm gì khi có đường huyết bất thường?

Mức đường huyết được xem là bất thường khi:
- Lúc đói, đường huyết dưới 70 mg/dL (3,9mmol/L)
- Sau ăn 2 giờ, đường huyết trên 200mg/dL (11,1mmol/L)

Khi có mức đường huyết bất thường:
- Trường hợp đường huyết thấp: người bệnh nên ăn thêm bánh, kẹo, nước đường, sữa.
- Trường hợp đường huyết tăng: người bệnh nên xem lại chế độ ăn, loại thức ăn, có quên uống thuốc không…
Sau đó nên đi khám bệnh để được bác sĩ tư vấn và điều chỉnh thuốc.

Vùng đường huyết an toàn là bao nhiêu?

Theo Hiệp hội Đái tháo đường của Mỹ, mức đường huyết an toàn đối với đa số người bệnh đái tháo đường là:
- Đường huyết lúc đói: 90-130mg/dL (5,0mmol/L-7,2mmol/L)
- Đường huyết sau ăn 1-2 giờ: nhỏ hơn 180mg/dL (10mmol/L)
- Đường huyết trước khi đi ngủ: 110mg/dL-150mg/dL (6,0mmol/L-8,3mmol/L)
Lưu ý là mức đường huyết an toàn, thích hợp còn tùy thuộc vào tuổi tác, mức độ các biến chứng và các bệnh lý kèm theo. Vì vậy, Bác sĩ sẽ quyết định mức đường huyết người bệnh cần đạt là bao nhiêu.

Bệnh đái tháo đường là bệnh gì?

Bệnh Đái tháo đường hay còn gọi là bệnh tiểu đường gây ra những hậu quả nặng nề cho người bệnh khi đường huyết luôn nằm trong vùng nguy hiểm. Những tổn thương do bệnh Đái tháo đường vẫn tiếp diễn ở cơ thể bệnh nhân cho dù người bệnh cảm thấy khỏe, đến khi có triệu chứng rõ ràng thì điều trị thường là muộn.




 Bệnh đái tháo đường là gì?

Đái tháo đường là tình trạng tăng đường trong máu mạn tính, không lây nhiễm, có tính di truyền, do thiếu Insulin (tụy tạng không tiết Insulin hay Insulin hoạt động không hiệu quả). Insulin là một chất do tụy tạng tiết ra có tác dụng làm cho đường trong máu luôn ở mức ổn định. Thông thường bác sĩ chẩn đoán người bệnh bị đái tháo đường khi đường huyết lúc đói ít nhất qua 2 lần thử máu lớn hơn hay bằng 126mg/dL (7mmol/L).
Bệnh đái tháo đường có 2 dạng chính là:
- Đái tháo đường típ 1 (người bệnh không có Insulin)
- Đái tháo đường típ 2 (người bệnh có Insulin, nhưng Insulin hoạt động không hiệu quả).

Biến chứng bệnh đái tháo đường:

1. Biến chứng cấp khi đường huyết tăng quá cao:
- Hôn mê do nhiễm ceton acid.
- Hôn mê do tăng áp lực thẩm thấu.

2. Biến chứng mạch máu nhỏ:
- ở mắt, thận, thần kinh (ở mắt gây viêm võng mạc, đục thủy tinh thể, mù đột ngột; ở thận gây viêm thận, suy thận; ở thần kinh gây teo cơ, mất hoặc tăng cảm giác đau, có cảm giác như điện giật, tê tay chân, liệt các dây thần kinh sọ não gây sụp mi, lé mắt, méo miệng hoặc gây bất lực ở nam giới…)
- Biến chứng mạch máu lớn: ở tim, mạch máu ngoại biên, não (gây xơ cứng động mạch, thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim, cao huyết áp, tai biến mạch máu não dẫn đến đột quỵ…)
- Biến chứng khác: da, xương khớp, nhiễm trùng…
- Biến chứng loét, nhiễm trùng, biến dạng bàn chân của người đái tháo đường.
Những người bệnh đái tháo đường đều có thể bị các biến chứng mạn. Tỷ lệ biến chứng mạn gia tăng tùy thuộc vào tình trạng mất cân bằng đường huyết và thâm niên của bệnh.

Ai có nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường? Làm sao phát hiện bệnh đái tháo đường?


Để phát hiện sớm bệnh đái tháo đường cần xét nghiệm đường huyết định kỳ:
- Xét nghiệm đường huyết lúc đói ở tuổi từ 45 trở đi. Nếu kết quả bình thường, tốt nhất thử lại mỗi năm.
- Xét nghiệm đường huyết lúc đói ở tuổi trẻ hơn và thường xuyên hơn khi có 1 trong các yếu tố sau:
- Cha mẹ hay anh chị em ruột bị bệnh đái tháo đường
- Không vận động thể lực
- Dư cân hay béo phì
- Cao huyết áp
- Rối loạn mỡ máu
- Đã được chẩn đoán có rối loạn dung nạp đường hay rối loạn đường huyết lúc đói
- Sinh con to trên 4kg hay đã được chẩn đoán đái tháo đường trong thai kỳ
- Có bệnh tim mạch hay tai biến mạch máu não
Ngoài ra cần đến khám ở các cơ sở y tế để được xét nghiệm đường huyết khi có các triệu chứng nghi ngờ mắc bệnh đái tháo đường như: mờ mắt, sụt cân, vết thương lâu lành, đau nhức, ngứa, tiểu nhiều, khát nước, bất lực ở nam giới…

3. Những yếu tố nào ảnh hưởng đến đường huyết của người bệnh?
Đường huyết của người bệnh dao động trong ngày, có nhiều yếu tố làm cho đường huyết tăng lên hoặc giảm xuống. Đường huyết bị ảnh hưởng bởi:
- Thức ăn, kích xúc tâm lý (stress), bệnh phối hợp: làm đường huyết tăng lên
- Insulin, thuốc uống, luyện tập thể lực: giúp giảm đường huyết
Lưu ý là mỗi người bệnh đái tháo đường sẽ đáp ứng khác nhau với các yếu tố nêu trên.

Chữa mất ngủ bằng Tâm Sen

Theo y học cổ truyền, trà Tâm sen có công dụng thanh tâm (giải nhiệt trong tạng tâm), giáng áp (hạ huyết áp), sáp tinh (giữ cho tinh khí được bền chặt) và chỉ huyết (cầm máu). Nó thường được dùng để chữa các chứng bệnh như đầu choáng mắt hoa, hay hồi hộp đánh trống ngực, nhịp tim nhanh, mất ngủ. Đây không phải là công dụng duy nhất của loại trà này.
Cách dùng tâm sen: Tâm sen 3g rửa sạch, hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.



Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, Tâm sen có tác dụng hạ huyết áp thông qua cơ chế làm giãn cơ trơn thành mạch máu và giảm trợ lực huyết quản, phòng chống rối loạn nhịp tim, ức chế quá trình ngưng tập tiểu cầu, chống oxy hoá, cải thiện tình trạng thiếu máu cơ tim nhờ khả năng làm giãn thành mạch máu, giảm lượng tiêu thụ oxy của cơ tim và cải thiện lưu lượng tuần hoàn động mạch vành.
Ngoài cách dùng Tâm sen dưới dạng trà dược, sách Trung dược dưỡng sinh còn giới thiệu cách chế thành cháo Liên tử tâm với công thức sau:
Liên tử tâm 5g, gạo tẻ 100g, hai thứ đem ninh nhừ thành cháo, chế thêm một chút đường phèn, chia ăn vài lần trong ngày. Món ăn này có công dụng thanh nhiệt, lương huyết, dưỡng tâm, an thần, được dùng chữa các chứng bệnh suy nhược cơ thể ở người già, hoa mắt chóng mặt, đau mắt đỏ, cao huyết áp, nôn hoặc ho ra máu, đại tiện ra máu, táo bón kéo dài…

Một số lưu ý khi dùng tâm sen: Tâm sen tính lạnh nên những người tỳ vị hư yếu, hay rối loạn tiêu hoá và đi lỏng mạn tính không được dùng.
Ngoài giá trị dinh dưỡng, hạt sen còn là một vị thuốc quý với tên "liên tử" được Ðông y dùng chủ yếu làm thuốc bồi dưỡng cơ thể và chữa các bệnh mất ngủ, thần kinh suy nhược. Liều dùng mỗi ngày 20 - 30g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột.
Hạt sen là thức ăn ngon và giàu chất dinh dưỡng. Từ hạt sen nhân dân ta chế biến nhiều món ăn ngon có giá trị bồi dưỡng cao như: chè sen, mứt sen, chè hạt sen long nhãn, chè hạt sen đậu xanh, thịt gà hầm hạt sen, móng giò hầm hạt sen... được mọi người ưa chuộng.
Do có tác dụng an thần nên hạt sen được dùng để chữa các bệnh đau đầu, chữa mất ngủ có kết quả tốt. Ngoài ra, hạt sen còn được dùng chữa các chứng tiêu chảy phân sống, thiếu máu, đái dầm, hoạt tinh. Tâm sen không chỉ giải nhiệt mà còn là cách chữa mất ngủ hiệu qua cho người bị bệnh mất ngủ.

Ngoài tâm sen còn có một số bài thuốc đơn giản thường dùng:
- Chữa tiêu chảy phân sống: Hạt sen 100g, củ mài 50g, quả hồng xiêm non 15g, đường phèn 20g. Cách làm: Giã nhỏ hồng xiêm cho vào nồi, thêm 250ml nước đun sôi kỹ, chắt lấy nước, bỏ bã. Hạt sen, củ mài đều sấy khô, tán thành bột, cho vào nước hồng xiêm quấy đều, đun nhỏ lửa thành cháo. Khi cháo chín cho thêm đường phèn, chia làm 3 lần ăn lúc đói trong 3 ngày liền.
- Chữa đau đầu: Hạt sen 20g, đậu đen 40g (sao chín), lá dâu non 20g, vỏ núc nác (sao rượu) 12g, lá vông non 40g, thục địa 40g. Cách làm: Đem các vị sao chín, đồ lên rồi giã nhuyễn, cho ít đường vào, luyện thành viên bằng hạt ngô, sấy khô bỏ vào lọ dùng dần.
Ngày ăn 2 lần, mỗi lần 20g. Chữa mất ngủ: Hạt sen 40g, táo nhân 40g (sao đen), thảo quyết minh 40g. Cách làm: Đem tất cả các vị tán nhỏ, luyện với hồ viên bằng hạt ngô, sấy khô. Mỗi ngày ăn 2 lần, mỗi lần 20g.
- Chữa thiếu máu: Hạt sen 50g, cá quả 300g, gạo nếp 50g, gạo tẻ 100g, gia vị vừa đủ. Cách làm: Cá quả hấp, gỡ lấy thịt ướp gia vị. Hạt sen, gạo nếp, gạo tẻ đều xay nhỏ. Xương cá giã lọc lấy nước ngọt, cho thêm 300ml nước vào nấu với bột gạo, để nhỏ lửa, quấy đều. Khi cháo chín cho thịt cá vào, đảo đều, thêm gia vị múc ra ăn; mỗi ngày ăn một lần vào lúc đói trong 10 ngày.
- Chữa hoạt tinh: Hạt sen 30g (sao vàng), mẫu lệ 30g, củ mài 40g (sao vàng), phụ tử chế 8g, hạt tơ hồng 30g (sao vàng), kim anh tử 40g, lộc giác sương 8g (sao vàng), khiếm thực (sao) 10g.
Cách làm: Các vị trên đều được sao tán nhỏ rồi luyện với mật làm thành viên to bằng hạt ngô, sấy khô, ăn ngày 2 lần vào buổi sáng và tối, mỗi lần 30 viên.
Trong 100g hạt sen tươi có 57,9g nước, 9,5g protit, 30g gluxit, 0,8g xenluloza, cung cấp được 162kcal. Ngoài ra, trong hạt sen còn có nhiều loại vitamin cần thiết cho cơ thể như caroten, vitamin B1 (0,17mg%), vitamin B2 (0,09mg%), vitamin PP (1,7mg%), vitamin C (17mg%)... Trong 100g hạt sen khô có 14g nước, 20g protit, 2,4g lipit, 58g gluxit, 17,5g xenluloza, cung cấp được 342kcal và nhiều muối khoáng quan trọng (canxi 89mg%, photpho 285mg%, sắt 6,4mg%...).
- Chữa đái dầm: Hạt sen 20g, gạo (nửa nếp nửa tẻ) 50g , thịt dê 10g, gia vị vừa đủ. Cách làm: Đem hạt sen và gạo xay nhỏ, cho 250ml nước, đun nhỏ lửa, quấy đều. Thịt dê thái nhỏ ướp gia vị, xào tái. Khi cháo chín cho thịt dê vào, thêm gia vị vừa đủ, ăn một lần vào lúc đói. Ăn 7 ngày liền.

Cách chữa bệnh mất ngủ kinh niên

Cách chữa mất ngủ kinh niên khỏi hẳn. Chỉ bằng những phương pháp đơn giản từ thiên nhiên và kiên trì áp dụng bạn sẽ thấy ngạc nhiên đấy.

- Bài thuốc chữa bệnh mất ngủ 1: Cam thảo, Trần bì, Thanh bì, Hương phụ, Đào nhân, Xích thược, Vỏ trắng cây Dâu mỗi vị 15 g; Sài hồ, Mộc thông, Bán hạ, Đại phục bì, Tô tử: mỗi vị 10 g. Sắc 15 phút. Chắt lấy nước. Còn bã, đổ thêm nước sắc tiếp 20 phút. Lọc, bỏ bã. Trộn lẫn 2 nước thuốc, chia đều uống. Ngày 1 thang.

- Bài thuốc chữa bệnh mất ngủ 2: Toan táo nhân, Phục linh, Tri mẫu, mỗi vị 10g; Xuyên khung, Cam thảo mỗi vị 5g. Cách sắc uống như bài 1.

- Bài thuốc chữa mất ngủ 3 (mãn tính):Trân châu mẫu, Dạ giao đằng: mỗi vị 30g; Bạch truật, Bạch thược, Toan táo nhân,Đang quy, Đan sâm, Phục linh: mỗi vị 20g; Tam lăng, Nga truật, Sài hồ, Cam thảo: mỗi vị 10g. Cách sắc uống như bài 1. Nếu người uể oải, lưỡi đỏ, tưa lưỡi vàng thì thêm Chi tử, Mẫu đơn bì: mỗi vị 10g. Nếu miệng khô, nóng cổ thì thêm Sa sâm, Mạch môn đông: mỗi vị 10g. Nếu khí huyết ở tim không đủ thì thêm Hoàng kỳ, Long nhãn mỗi vị 10g.

- Bài thuốc chữa bệnh mất ngủ 4 (mãn tính): Mẫu lệ 30g; Thục linh, Câu kỷ tử, Toan tóa nhân, Sơn dược: mỗi vị 15g; Sơn thù du, Phụ tử, Phục linh, Tri mẫu: mỗi vị 9g; Trạch tả: 6g; Mẫu đơn bì, Nhục quế: mỗi vị 3g.

- Bài thuốc chữa bệnh mat ngu 5 (mãn tính): Toan tóa nhân (sao); Từ thạch, Long cốt, Mẫu lệ; mỗi vị 30g; Bách hợp: 20g; Hợp hoan bì, Dạ giao đằng, Câu kỷ tử: mỗi vị 15g; Thạch hộc, Bá tử nhân, Dâm dương hoắc: mỗi vị 12g, Đậu cổ, Chi tử, Viễn trí, Trần bì, Bạch truật: mỗi vị 10g; Thiên trúc hoàng, Tri mẫu, Hổ phách (nghiền, ngâm): mỗi vị 6g; Chu sa (nghiền, ngâm): 1.5g. Cách sắc, uống như bài 1

- Bài thuốc chữa bệnh mất ngủ 6: Nếu buồn phiền, hay quên, tức ngực. Dạ giao đằng,  Mạch nha: mỗi vị 50g; Bách hợp: 40g; Bạch thược, Tâm sen, Sinh địa: mỗi vị 20g: Uất kim, Hương phụ, Liên kiều, Cam thảo mỗi vị 15g, Táo đỏ 8 quả.

- Bài thuốc chữa benh mat ngu 7: Hạt sen: 20 hạt, Long nhãn: 15 g. Sắc kỹ, ăn, uống tất trước khi ngủ.

- Bài thuốc chua mat ngu 8: Phục thần, Đại táo, Hồ đào nhân, Trúc diệp, Đăng tâm mỗi vị 10g; Cam thảo 3g. Cách sắc, uống như bài 1. Ngày 1 thang.

- Bài thuốc chữa bệnh mất ngủ 9:Hạt sen, Bách hợp, Toan tóa nhân: mỗi vị 20g. Cách sắc uống như bài 1. Ngày 1 thang.

Những cach chua mat ngu trên thật đơn giản phải không các bạn?

Tìm hiểu về bệnh mất ngủ kinh niên

- Bệnh mất ngủ thường gặp ở lứa tuổi nào?
Nguyên do mất (thiếu) ngủ ở trẻ vị thành niên là do học hành căng thẳng, thức khuya vào mạng Internet để “chat” với bạn bè hoặc do lạm dụng xì ke ma túy hay rượu chè. Mất ngủ ở tuổi trung niên do căng thẳng trong sở làm, buồn phiền chuyện gia đình hay do bệnh tật và thuốc men gây ra. Phụ nữ ở thời kỳ mãn kinh thường hay mất ngủ. Cũng có người bị mất ngủ vào lúc trước khi có kinh, những người đó thường hay bị chứng Pre-menstrual Dysphoric disorder (cau có trước khi có kinh do xáo trộn estrogen). Mất ngủ ở người cao niên thường do cấu trúc giấc ngủ bị tuổi già thay đổi, bị đau nhức, bị trầm cảm và bị bệnh lẫn Alzheimer.

- Phân loại bệnh mất ngủ:
Bệnh mất ngủ được phân loại ra 3 nhóm: mất ngủ ngắn hạn (transient insomnia) xảy ra vài đêm trong tuần và sau đó bệnh nhân ngủ lại bình thường, mất ngủ từng chập (intermittent insomnia) cũng như mất ngủ ngắn hạn nhưng xảy ra từng hồi, và mất ngủ kinh niên (chronic insomnia) là triệu chứng mất ngủ xảy ra hầu như hàng đêm và kéo dài hơn một tháng.
Bệnh mất ngủ còn được phân loại thành bệnh mất ngủ chính (primary insomnia) và bệnh mất ngủ phụ (secondary insomnia) cũng được gọi là bệnh mất ngủ do bệnh khác gây ra.
Ngoài ra còn có những phân loại dựa trên thời gian mà triệu chứng mất ngủ xảy ra: mất ngủ đầu đêm (early insomnia), bệnh nhân không dỗ giấc ngủ được sau hơn 30 phút; mất ngủ giữa đêm (middle insomnia): bệnh nhân không giữ được giấc ngủ, ngủ không sâu, thường hay thức giấc nhiều chập trong đêm; mất ngủ trễ (late insomnia): bệnh nhân thức rất sớm và không ngủ trở lại được.
Hiện nay, các khoa học gia không dựa trên tổng số giờ ngủ để chẩn bệnh mất ngủ. Thí dụ như có người nào đó ngủ một đêm chỉ cần 4 tới 5 tiếng mà thức dậy cảm thấy đã ngủ đủ, nguyên ngày không mệt thì không mắc phải bệnh mất ngủ.

- Bệnh mất ngủ có phổ biến không?
bệnh mất ngủ xảy ra rất thường xuyên ở mọi lứa tuổi. Những thống kê cho ta biết rằng có khoảng 1/3 chúng ta có triệu chứng giấc ngủ bị xáo trộn. Khoảng chừng 9% tới 15% người than phiền có triệu chứng buồn ngủ và mệt mỏi trong ngày vì thiếu ngủ.
Thống kê bệnh nhân đi khám bác sĩ gia đình cho thấy rằng có tới 50% bệnh nhân bị mất ngủ vì nhiều lý do khác nhau. Tuy nhiên số bệnh nhân khai bệnh mất ngủ là nguyên nhân chính chỉ có chừng 1%. Như thế người bệnh mất ngủ thì nhiều nhưng được chữa mất ngủ mức thì hiếm hoi. Sở dĩ như thế là vì người ta coi thường triệu chứng mất ngủ và hiểu sai lầm rằng mất ngủ là chuyện bình thường ở xã hội hiện đại. Người ta không hiểu rằng mất ngủ kinh niên sẽ là nguyên nhân dẫn đến nhiều bệnh khác sau này.

- Cấu trúc của giấc ngủ như thế nào?
Muốn hiểu tại sao bệnh mất ngủ có tầm quan trọng ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày, ta thử tìm hiểu cấu trúc của giấc ngủ (sleep architecture).
Giấc ngủ được chia làm 2 phần chính là giấc ngủ REM và giấc ngủ non-REM. REM viết tắt cho “Rapid Eyes Movements”. Giấc ngủ REM thường xảy ra khi ta mơ, lúc đó mắt người ngủ đảo qua đảo lại như thể họ đang theo dõi một diễn biến xảy ra trước mặt. Khi ta di vào giấc ngủ REM thì các bắp thịt tay chân bị tê liệt không nhúc nhích được. Sở dĩ thiên nhiên cấu tạo não bộ ta như thế là để bảo vệ giấc ngủ, không cho ta cử động khi nằm mơ thấy những cảnh bạo động. Hầu hết những giấc mơ và ác mộng xảy ra vào giai đoạn REM này. Giấc mơ giúp ta giải tỏa những căng thẳng tình cảm, cảm thấy thoải mái khi tỉnh ngủ. Khi ta mất ngủ kinh niên thì những ứ đọng của tình cảm căng thẳng sẽ dễ tạo ra những bệnh tâm thần như lo âu quá độ (generalized anxiety disorder) hay trầm cảm (major depression). 
Giấc ngủ non-REM thì được chia làm 4 giai đoạn (stage). Giai đoạn 1 và 2 là giấc ngủ nông cạn không tạo được sự sảng khoái, đây là giai đoạn ta mới ngủ, tuy mắt nhắm nhưng ta còn nghe biết hoàn cảnh chung quanh. Khi đi vào giai đoạn 3 và 4 thì ta ngủ say hơn, nếu có ai gọi ta thức dậy vào giai đoạn này thì phải đợi một thời gian ta mới thức tỉnh hoàn toàn. Giai đoạn 3 và 4 hết sức cần thiết cho cơ thể tái tạo năng lực và điều hòa các chất nội tiết (hormones) trong cơ thể ta. 
Cấu trúc bình thường của giấc ngủ là người ngủ từ từ đi vào giai đoạn 1 đến 4 của non-REM và sau đó kèm theo REM. Mỗi chu kỳ như vậy xảy ra độ 90 đến 110 phút và lập đi lập lại 4 đến 6 lần mỗi đêm. Khi gần sáng thì giấc ngủ non-REM giảm và REM tăng lên để chuẩn bị cho cơ thể hoạt động trong một ngày mới. Những gì làm xáo trộn chu kỳ giấc ngủ có thể gây ra bệnh mất ngủ.

- Những xáo trộn khi bị bệnh mất ngủ:
Trẻ vị thành niên mới lớn do kích thích tố mất quân bình thường hay có triệu chứng “ma đè”. Người ngủ nằm mơ thấy ác mộng, lúc thức dậy người không cựa quậy được nên rất sợ hãi tưởng như có ai đè nặng lên thân mình. Thật ra lúc đó các bắp thịt bị tê liệt do giấc ngủ REM tạo ra. Khi thức giấc quá nhanh thì bắp thịt chưa trở lại bình thường nên ta tưởng như có mà đè. Ngược lại, ở một số bệnh tâm thần lo âu (anxiety disorders) thì sự tê liệt đó đôi khi không xảy ra lúc bệnh nhân có ác mộng. Nhiều bệnh nhân trong lúc có ác mộng quơ tay đánh hay đạp người ngủ chung với mình. Một số người khác thì có mộng du. Mặc dù đang ngủ nhưng họ đi đứng, ăn uống như người đang thức. Những hành động đó họ hoàn toàn không nhớ khi tỉnh dậy. Trường hợp “ma đè” đa số tự nó hết, những trường hợp còn lại cần phải được chữa trị.
Sau đây là những yếu tố làm xáo trộn cấu trúc giấc ngủ. Nói về phần tinh thần thì lo âu là thủ phạm chính gây ra bệnh mất ngủ. Lo âu là danh từ chung dùng chỉ tất cả những buồn phiền, hờn giận, ham muốn, nhớ nhung, tiếc rẻ, ... mà người mất ngủ ôn lại trong đầu, chớ không chỉ hạn chế ở tình cảm lo lắng. Những hóa chất như caffeine (trà, nước ngọt, cà phê), nicotine (hút thuốc vào đêm), rượu, thuốc uống trị bệnh (như các loại thuốc chống nghẹt mũi, thuốc giảm đau có chứa caffeine, ...) đều có thể gây ra bệnh mất ngủ. Nhiều người uống rượu để tự trị bệnh mất ngủ. Thật ra, uống rượu nhiều làm xáo trộn cơ cấu giấc ngủ khiến người nghiện rượu không có giấc ngủ sâu (giai đoạn 3 và 4). Khi ta không đi vào giấc ngủ sâu được thì sự bực bội lo âu lại càng nhiều hơn, lâu ngày sẽ đưa đến các bệnh tâm thần như trầm cảm (depression).

- Ảnh hưởng của bệnh mất ngủ:
Bệnh mất ngủ kinh niên gây nhiều ảnh hưởng không tốt đến cuộc sống xã hội và gia đình. Nghiên cứu cho thấy những người mất ngủ có đời sống bị giảm phẩm chất. Họ thường gây ra tai nạn xe cộ hay tai nạn trong sở làm vì phản ứng bị chậm lại và do thiếu sự chú ý. Tri thức người mất ngủ kinh niên lu mờ, họ mất khả năng chăm chú lâu và trí nhớ bị yếu kém. Vì thế khả năng học hành và làm việc của họ giảm rõ rệt. Những người này thường hay nghỉ làm và hiệu suất công việc bị giới hạn. Họ đi bác sĩ nhiều hơn, có nhiều triệu chứng đau nhức và khi bệnh thì lâu bình phục hơn vì cơ thể thiếu những chất giúp tế bào hồi phục, trong lúc độc tố thì nhiều hơn người bình thường. Nói về quan hệ gia đình, người mất ngủ thường hay căng thẳng, cau có, thiếu bình tĩnh, ít khi hài lòng, dễ lớn tiếng với người thân và con cái, tạo nhiều căng thẳng trong đời sống gia đình.
Những công trình nghiên cứu gần đây cho ta biết rằng bệnh mất ngủ thường đi đôi với những bệnh tâm thần lẫn thể xác. Trong 2 năm theo dõi bệnh nhân, các bác sĩ đã nhận thấy rằng những bệnh sau đây thường hay đi đôi với bệnh mất ngủ. bệnh trầm cảm có khả năng odd ratio (OR) cao nhứt là 8.2, kế đó là bệnh suy tim (congestive heart disease) với OR là 2.5, bệnh loét bao tử (OR = 1.8) và bệnh tắc phổi kinh niên (COPD) với OR = 1.5. Ngoài ra, các khoa học gia tìm thấy rằng bệnh mất ngủ kinh niên làm thay đổi hệ thống miễn nhiễm. Trong 24 giờ, chất cortisol trong nước tiểu người bị mất ngủ kinh niên có tỷ lệ thuận với thời gian mất ngủ. Chất norepinephrine cũng tăng theo tỷ lệ thuận ở những người không đi vào giấc ngủ sâu được (giai đoạn 3 và 4). Những chất này ở liều lượng cao có thể gây ra nhiều bệnh tật. Thêm nữa, chất kích thích tố sinh trưởng (growth hormone) chỉ tìm thấy được ở thiểu số (3/15) những người bị mất ngủ kinh niên. Chất này cần thiết để giúp các tế bào phục hồi. Một nghiên cứu khác nữa cho thấy rằng chất Interleukin-6 và Tumor necrosis factor gia tăng làm cơ thể mệt mỏi và cũng có thể tạo ra nhiều đau nhức. Nói tóm lại mất ngủ kinh niên tạo ra nhiều độc tố trong cơ thể ta và làm giảm những chất giúp cơ thể hồi phục.
Giấc ngủ ảnh hưởng đến não bộ: Dân gian khi nói đến ngủ thì người ta thường nghĩ đến con mắt. Khi buồn ngủ thì mí mắt nặng trĩu.
Thật sự, không phải mắt mà chính não bộ đóng vai trò rất quan trọng trong giấc ngủ. Trong não bộ ta có một nhóm tế bào thần kinh gọi là suprachiasmatic nucleus (SCN) điều khiển nhịp điệu của thức và ngủ, còn gọi là nhịp circadian (circadian rhythm). Nhịp thức ngủ này liên hệ đến cường độ ánh sáng bên ngoài, nó là một dạng đồng hồ sinh học. Khi trời sáng thì SCN tiết ra ít chất melatonin, khi chiều tối thì melatonin được tiết ra nhiều hơn. Chất này giúp ta đi vào giấc ngủ dễ dàng bằng cách giảm cyclic AMP (cAMP). Khi cAMP ít đi thì sự hoạt động cơ thể giảm xuống và chậm lại khiến ta ngủ dễ hơn. Khoảng 9 - 10 giờ tối là lúc melatonin tiết ra nhiều nhứt tạo nên sức tải tối đa của giấc ngủ (maximum sleep load). Nếu ta gượng lại giấc ngủ, làm công việc nào đó cho đến khuya, càng gần sáng thì sức tải giấc ngủ càng giảm và ta càng khó ngủ. Thức trễ một thời gian lâu, ta sẽ làm xáo trộn đồng hồ sinh học trong cơ thể và tạo ra bệnh mất ngủ.